Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN có tăng thêm cơ hội bảo vệ quyền con người?

“Mọi người dân được thừa hưởng quyền và tự do quy định trong bản Tuyên ngôn nhân quyền này, không phân biệt dựa trên bất cứ điều gì, như sắc tộc, giới, tuổi tác, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị và các quan điểm khác, quốc tịch, xuất xứ xã hội, điều kiện kinh tế, nơi sinh, tình trạng khuyết tật hoặc các điều kiện khác.” [điều 2]
Ngày 18 tháng 11 năm 2012, lãnh đạo mười quốc gia ASEAN trong đó có Việt Nam đã thông qua Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN (AHRD). Đây là văn kiện về nhân quyền đầu tiên thể hiện cam kết chính trị của toàn khối trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cũng như tự do cơ bản cho 600 triệu công dân ASEAN. Tuyên ngôn nhân quyền được soạn thảo bởi Ủy ban liên chính phủ về quyền con người ASEAN (AICHR) – cơ quan đầu mối phụ trách vấn đề quyền con người của ASEAN.
Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN là một tài liệu thể hiện quyết tâm chính trị, không ràng buộc pháp lý. Tuy nhiên, nó là nền tảng để ASEAN có thể soạn thảo các công ước có tính ràng buộc sau này. Chính vì vậy, ngay từ khi tuyên ngôn còn trong quá trình soạn thảo, các tổ chức phi chính phủ, các nhà vận động nhân quyền trong toàn khối ASEAN cũng như quốc tế đã rất quan tâm.
Theo các nhà vận động nhân quyền, quá trình soạn thảo không thực sự minh bạch, thiếu sự tham vấn và tham gia đầy đủ của các tổ chức xã hội dân sự. Khi bị chỉ trích, AICHR mới tiến hành hai cuộc tham vấn với một số tổ chức phi chính phủ có chọn lọc vào tháng 6 và tháng 9 năm 2012 ở Kuala Lumpur và Manila. Tuy nhiên, sự tham vấn này còn hời hợt và bản thảo của Tuyên ngôn nhân quyền không được chia sẻ cho đến tận ngày nó được thông qua.
Nhiều tổ chức phi chính phủ và nhà hoạt động nhân quyền phê phán từ ngữ và nội dung của Tuyên ngôn còn thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế. Cụ thể, Tuyên ngôn còn nhấn mạnh đến cân bằng giữa quyền con người và tự do cá nhân với trách nhiệm công dân (điều 6), với tính đặc thù quốc gia (điều 7) và lợi ích công cộng như đạo đức xã hội (điều 8). Các nhà hoạt động nhân quyền lo ngại đây chính là những điều khoản để nhà nước viện dẫn trong việc hạn chế tự do cá nhân và biện minh cho các vi phạm nhân quyền.
Đặc biệt, một số quốc gia như Malaysia, Singapore và Brunei đã phản đối việc bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trong bản tuyên ngôn nhân quyền này. Đây cũng chính là những quốc gia đang có luật tội phạm hóa quan hệ cùng giới, và người đồng tính, song tính và chuyển giới có thể bị bỏ tù chỉ vì yêu người họ yêu hoặc sống đúng với chính con người họ. Các đại diện AICHR biện minh cho việc này bằng điều 2 khi viện dẫn nguyên tắc không phân biệt đối xử. Tuy nhiên, việc không cụ thể hóa quyền của người thiểu số có thể gây ra cách hiểu là ASEAN đang ngầm chấp nhận quyền của một nhóm nhân dân đang bị vi phạm nghiêm trọng.
Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN đang có những hạn chế nhất định và nhiều tổ chức coi nó như là một bước khởi đầu, là một cơ chế mới cùng với AICHR mà các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức phát triển và các nhà vận động nhân quyền có thể sử dụng bên cạnh các văn bản quốc tế khác. Với việc ASEAN trở thành một cộng đồng chung vào năm 2015, các tổ chức phát triển Việt Nam nên tham gia nhiều hơn vào cơ chế vùng này để tăng cường tiếng nói của xã hội dân sự và người dân. Hơn nữa, việc tham gia này sẽ giúp cho nhân dân ASEAN hiểu hơn về Việt Nam và người Việt Nam hiểu hơn về ASEAN, từ đó góp phần vào xây dựng một cộng đồng ASEAN đoàn kết, thấu hiểu và bình đẳng.
Có thể xem Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN theo liên kết http://www.asean2012.mfa.gov.kh/?page=detail&article=328&lg=en