Kỳ thị xã hội và xét nghiệm HIV trong cộng đồng đồng tính nam

Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) đã thực hiện một cuộc điều tra trực tuyến nam quan hệ tình dục đồng giới trên qui mô toàn quốc. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa việc sử dụng các dịch vụ phòng chống HIV và các đặc điểm nhân khẩu học xã hội của nhóm nam giới trên 18 tuổi, hiện đang sinh sống ở Việt Nam và đã từng có hành vi quan hệ tình dục đồng giới nam. Trong số 2.640 người trả lời bảng hỏi trực tuyến, hơn 60% có độ tuổi từ 18 đến 24, gần 79% có trình độ đại học và trên đại học, 86% chưa từng kết hôn và 75% sống ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tiếp cận các dịch vụ phòng chống HIV trong nhóm tham gia nghiên cứu còn hạn chế: chỉ có 27% nhận thông tin các dịch vụ, 14% nhận bao cao su, 17% đã khám và xét nghiệm STIs và 32% đã từng xét nghiệm HIV. Đặc biệt đáng báo động là chỉ gần 46% người tham gia nghiên cứu trả lời đúng về kiến thức lây truyền HIV.
Nghiên cứu lần đầu tiên thử nghiệm các thang đo đã được sử dụng trên thế giới về lòng tự tôn, hỗ trợ xã hội, trải nghiệm kỳ thị và tự kỳ thị của những người có quan hệ đồng giới và mối quan hệ của các thang đo này với việc tiếp cận các dịch vụ phòng chống HIV ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, cứ tăng 1 điểm trong thang đo trải nghiệm kỳ thị (tổng thang điểm từ 12 đến 48) của người quan hệ đồng giới nam, nguy cơ họ không sử dụng dịch vụ xét nghiệm HIV tăng 3%. Tương tự như vậy, tăng 1 điểm trong thang đo tự kỳ thị (tổng thang điểm 7 – 28), nguy cơ không sử dụng dịch vụ xét nghiệm HIV tăng lên 2%. Ngược lại, ở những người quan hệ đồng giới nam có lòng tự tôn tăng 1 điểm (tổng thang điểm 6 -24), nguy cơ không sử dụng dịch vụ xét nghiệm HIV giảm đi 4%, và nhận được hỗ trợ xã hội tăng 1 điểm (tổng thang điểm 4 -16), nguy cơ không sử dụng dịch vụ xét nghiệm HIV giảm 7%.

Kết quả nghiên cứu trên gián tiếp chỉ ra kỳ thị xã hội với hành vi tình dục đồng giới và người đồng tính là một trong những rào cản đối với việc sử dụng các dịch vụ phòng chống HIV. Nói cách khác, kỳ thị và định kiến đã làm giảm hiệu quả của các chương trình hỗ trợ về sức khoẻ và phòng chống HIV cho cộng đồng nam đồng tính. Như vậy, ngoài việc cung cấp thông tin và các dịch vụ sức khoẻ, các chương trình dự án cần tập trung vào giảm định kiến và kỳ thị người đồng tính, thúc đẩy xã hội có cái nhìn cởi mở hơn với hành vi quan hệ tình dục đồng giới.

Nhóm nghiên cứu iSEE
Bài viết tiếp theo