Kết nối những cộng đồng thiểu số lại gần nhau hơn

Báo Lao Động đăng bài phỏng vấn ông Lê Quang Bình, Viện trưởng Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) về những hoạt động hỗ trợ các nhóm thiểu số trong xã hội.

Thạc sĩ Lê Quang Bình – Viện trưởng Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) – ấn tượng đầu tiên, có thể gây ngạc nhiên bởi sự trẻ trung, tác phong nhanh nhẹn, trang phục có phần bụi bặm của anh.

Nhưng trò chuyện với anh mới thấy anh là một người có kiến thức rộng về các lĩnh vực có liên quan đến công việc đang làm. Anh đã chọn cho mình một lối đi để tập trung nghiên cứu ở hai lĩnh vực chưa nhiều người quan tâm. Đó là người đồng tính (NĐT) và dân tộc thiểu số (DTTS). Anh là người đồng sáng lập ra iSEE từ tháng 7.2007.

Lý do nào khiến anh thành lập iSEE?

– Ý tưởng thành lập iSEE đã được tôi nung nấu từ lâu, từ ngày còn làm cho tổ chức Oxfam (tổ chức chuyên hỗ trợ các chương trình xoá đói giảm nghèo). Ban đầu tôi làm cho Oxfam Bỉ, Oxfam Anh, trưởng đại diện Oxfam tại VN, Oxfam Campuchia, rồi làm cố vấn các chương trình quốc tế của Oxfam Hồng Kông ở VN. Thời gian làm tại Oxfam giúp tôi hiểu rõ về quyền con người – những quyền mà mọi công dân đều có quyền được hưởng.

Tuy nhiên, làm cho Oxfam tôi cũng chỉ là nhân viên, không thể nắm bắt hết vấn đề. Tôi muốn làm chủ được công việc và muốn có một tổ chức quan tâm tới những người DTTS tại VN. Lý do thứ hai là dù Oxfam quan tâm nhiều đến việc xoá đói giảm nghèo tại VN, nhưng có một đối tượng mà họ không quan tâm đến là NĐT – những người đang chịu sự kì thị, phân biệt đối xử. Đó là lý do vì sao tôi có ý tưởng thành lập ra iSEE.

Vậy tại sao anh lại quan tâm đến đối tượng này và muốn giúp đỡ họ?

– Trước khi thành lập iSEE, chúng tôi đã tiến hành khảo sát để tìm hiểu xem đối tượng nào là thành phần yếu thế trong xã hội. Trong những đối tượng chúng tôi chọn để khảo sát có người khuyết tật, DTTS, trẻ em mồ côi, trẻ em đường phố, nạn nhân chất độc da cam, NĐT… Kết quả cho thấy, NĐT hầu như không có ai quan tâm, kể cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức phi chính phủ. Họ bị kì thị và rất ít nhận được sự trợ giúp nào.

iSEE chọn NĐT và DTTS là đối tượng để nghiên cứu, nghe có vẻ hai nhóm này không có mối liên hệ với nhau?

– Khi thành lập iSEE, một trong những tiêu chí để chọn nghiên cứu là các nhóm đối tượng cần có sự liên quan, thống nhất. NĐT và DTTS nghe có vẻ không liên quan gì đến nhau, nhưng thực ra cả hai có điểm chung đều là nhóm thiểu số trong xã hội và đều bị định kiến, kì thị, phân biệt đối xử ở những mức độ khác nhau. Sự định kiến này gây ra những hậu quả nghiêm trọng, liên quan đến sức khoẻ, tinh thần.

Mặc dù, người DTTS nhận được sự quan tâm của nhà nước, các tổ chức, nhưng xét về khía cạnh trao quyền, tạo sự chủ động cho họ thì vẫn còn thiếu, hạn chế. Họ vẫn chỉ là người làm theo sự chỉ bảo của các tổ chức đến giúp đỡ họ. Thậm chí nhiều chương trình hỗ trợ người dân tộc bộc lộ rõ sự áp đặt, chưa có sự tôn trọng người DTTS. iSEE muốn giúp cộng đồng DTTS tự mình vươn lên, xây dựng cho mình bản sắc riêng, tiếp nhận tốt hơn các chương trình hỗ trợ của nhà nước.

Với cộng đồng NĐT, họ đang chịu sự định kiến, kì thị như thế nào, thưa anh?

– Có rất nhiều! Các phương tiện truyền thông là ví dụ. Trước đây, báo chí rất có định kiến và nói không đúng về NĐT, coi họ là những người bị bệnh, hoang dại, có vấn đề về tâm thần, về đạo đức. Tất cả những thông tin đó đều sai lệch, góp phần làm tăng sự định kiến, kì thị về NĐT trong xã hội. Bố mẹ của NĐT cũng định kiến với con cái của mình. Họ tỏ ra xấu hổ và không dám để cho ai biết con mình đồng tính.

Một nghiên cứu về sự kì thị của xã hội với NĐT do iSEE thực hiện (sắp công bố) cho thấy gần 70% bố, mẹ cho rằng nếu biết con mình có bạn là NĐT thì sẽ cấm không cho chơi. Đó là biểu hiện của sự kì thị và định kiến rõ ràng! Sự kì thị nặng hơn có thể là bị đánh đập, cấm đoán, nhốt trong nhà không cho đi chơi thậm chí là xích con lại. Những hành vi như vậy là vi phạm pháp luật, nhưng nhiều người lại không nghĩ vậy và cho rằng như thế sẽ tốt cho con của họ hơn.

Còn với người DTTS, họ đang chịu những thiệt thòi gì?

– Cái nhìn rõ nhất mà chúng ta thấy là tỉ lệ đói nghèo của người DTTS cao hơn hẳn. Khoảng 50% cộng đồng DTTS là người nghèo, trong khi mức trung bình của cả nước là gần 10%. Họ chịu thiệt thòi trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hoá, thông tin, cơ hội việc làm… Hàng năm, VN có hàng triệu cơ hội việc làm được tạo ra, nhưng việc làm có trả lương dành cho người DTTS là rất ít.

Theo anh, điều gì khiến người DTTS chịu sự thiệt thòi như vậy?

– Theo tôi đó chính là rào cản về văn hoá. Mỗi cộng đồng có một đặc trưng văn hoá riêng và vấn đề ở đây là chúng ta không dung hòa và thích nghi với nền văn hoá đó mà nhiều người nghĩ, văn hoá của người dân tộc là văn hoá không văn minh, lạc hậu… Khi tuyển dụng, nhiều nhà tuyển dụng e ngại tuyển người dân tộc vì nghĩ họ không có trình độ, không tuân thủ kỉ luật lao động. Đây là những định kiến vô hình đã ăn sâu vào tâm thức của những nhà tuyển dụng hiện nay.

Từ tâm lý đó, ngay cả người DTTS cũng tự ti, nhìn mình là người kém cỏi hơn những người dân tộc khác. Như vậy, việc tạo sự bình đẳng cho người DTTS trong mọi vấn đề là rất quan trọng. Đặc biệt là tạo việc làm cho người dân tộc khi diện tích đất canh tác nông nghiệp ngày càng giảm. Nếu người dân tộc tiếp tục vẫn chỉ làm nông nghiệp, ít có cơ hội tham gia thị trường lao động thì họ sẽ vẫn mãi ở trong cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Tôi nghĩ nhà nước cần hỗ trợ thêm người DTTS về đất nông nghiệp và tạo cơ hội việc làm cho họ.

Vậy iSEE đã có những hỗ trợ nào với người DTTS và NĐT thời gian qua?

– Chúng tôi có các chương trình nghiên cứu về hai nhóm đối tượng này, những kết quả đạt được sẽ được chia sẻ, đề xuất để các cơ quan chức năng đưa ra những chính sách phù hợp, quan tâm hơn tới người DTTS và NĐT. Chúng tôi cũng muốn thông qua báo chí để định hướng xã hội, giảm sự kì thị, định kiến. Để giúp công tác truyền thông tốt, chúng tôi thường tổ chức các khoá tập huấn dành cho các nhà báo để họ có kiến thức đúng, viết chính xác về hai nhóm đối tượng này.

iSEE có các chương trình hỗ trợ trực tiếp nào không?

– Chúng tôi không có những dự án hỗ trợ trực tiếp, chủ yếu là cầu nối để kết nối hai nhóm đối tượng đó với xã hội. Chúng tôi vận động chính sách, chia sẻ các nghiên cứu với các cơ quan hữu quan để kêu gọi sự giúp đỡ. Bên cạnh đó chúng tôi cố gắng nâng cao năng lực cho cộng đồng thiểu số để họ tự tin hơn. Ví dụ như chúng tôi hỗ trợ thành lập tổ chức ICS (Kết nối và chia sẻ thông tin) – cộng đồng NĐT tại VN. Với người DTTS cũng vậy, chúng tôi cố gắng tạo ra các diễn đàn để họ có cơ hội nói lên tiếng nói, suy nghĩ của mình.

Không thể phủ nhận một điều là người DTTS hiện nay có trình độ văn hoá thấp hơn dân tộc đa số do họ chịu thiệt thòi trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội. Vậy anh đánh giá thế nào về những cách làm mà các đơn vị, tổ chức đã và đang làm để hỗ trợ người DTTS phát triển hơn?

– Sự hỗ trợ của nhà nước, các tổ chức tới các đối tượng yếu thế trong xã hội đã góp phần đem lại cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn, đầy đủ hơn. Tuy nhiên, một số cách tiếp cận các chương trình hỗ trợ của những người thực hiện chưa phải lúc nào cũng phù hợp. Tôi lấy ví dụ như trong các chương trình hỗ trợ nông nghiệp cộng đồng DTTS. Nhiều cán bộ khuyến nông đưa các phương pháp canh tác khác đem đến áp dụng cho một nhóm DTTS nào đó mà chưa tìm hiểu kĩ xem như thế có hợp không. Mình không thể nói cách canh tác của người H’Mông ở trên Hà Giang lạc hậu hơn so với cách trồng lúa của người Kinh ở Thái Bình.

Họ chọc lỗ bỏ hạt có vẻ rất nguyên thủy, nhưng đó là cách làm rất hiện đại, phù hợp với điều kiện tự nhiên ở đây, nơi chỉ có hốc đá, không có nhiều đất nông nghiệp để bà con canh tác. Do đó việc họ trồng ngô trên vách đá, thực sự là một kiến thức về văn hoá bản địa rất văn minh và tôi tin rằng nếu người vùng đồng bằng lên làm nông nghiệp trên các vùng như vậy sẽ không thể làm tốt như người H’Mông ở Hà Giang. Suy rộng ra, nếu chỉ nhìn vào hiện tượng mà đánh giá vấn đề thì sẽ không có kết quả chính xác.

Từ ngày 3-5.5, Diễn đàn nhân dân ASEAN 2011 sẽ diễn ra tại Jakarta (Indonesia). iSEE là một trong những tổ chức tham gia diễn đàn của đoàn VN. Diễn đàn nhân dân ASEAN là nơi để các tổ chức xã hội dân sự và nhân dân ASEAN trao đổi những vấn đề mình quan tâm. Diễn đàn cũng là nơi để nhân dân đối thoại với chính phủ và ASEAN về các vấn đề quan trọng. Sẽ có 33 hội thảo chuyên đề về Quyền phụ nữ và bình đẳng giới, Biến đổi khí hậu, Hòa bình và công lý, Nông nghiệp, An ninh, Người đồng tính, Dân tộc thiểu số…

Với Diễn đàn nhân dân ASEAN mà iSEE tham gia trong đoàn VN tại Indonesia, iSEE đem đến Diễn đàn thông điệp gì, thưa anh?

– iSEE tham gia Diễn đàn nhân dân ASEAN từ năm 2009. Lần này tham gia với vai trò đồng tổ chức của phía VN và tại diễn đàn này, iSEE sẽ đứng ra tổ chức hai hội thảo về DTTS và NĐT. Thông điệp mà iSEE đem đến cũng chính là thông điệp của hai cộng đồng người này trong việc xoá bỏ định kiến, kì thị, chia sẻ các thành tựu mà NĐT và DTTS tại VN đạt được. So với các nước khác trong khu vực, VN khá cởi mở về vấn đề NĐT và đặc biệt là khả năng thay đổi nhanh chóng. Có thể kể đến sự thay đổi từ truyền thông. Trước đây, truyền thông chính thống kì thị, viết không đúng về NĐT. Nhưng hai năm gần đây, hầu như không có bài viết nào kì thị về NĐT. Đấy là sự thay đổi rất lớn mà nhiều nước không thể nghĩ VN có thể làm một cách nhanh chóng đến vậy.

Cá nhân anh mong chờ điều gì từ Diễn đàn nhân dân ASEAN năm nay?

– Tôi nghĩ, đây sẽ là cơ hội để mọi người chia sẻ những suy nghĩ, tiếng nói của mình. Khi tham gia vào diễn đàn khu vực thì sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm, tiếp thu được nhiều cách làm hay của các nước. Tôi mong các nước trong khu vực sẽ chung sức để xây dựng một cộng đồng ASEAN đoàn kết, chia sẻ kinh nghiệm trên tinh thần hiểu biết, hỗ trợ lẫn nhau bởi nhiều người chưa hiểu về VN, thậm chí có suy nghĩ không đúng, tiêu cực. Nhưng khi có cơ hội tiếp cận thì họ đã thay đổi suy nghĩ, họ không ngờ VN lại tiến bộ như vậy.

Xin cảm ơn anh!

Thạc sĩ Lê Quang Bình, sinh năm 1973 tại Thái Nguyên. Anh lấy bằng thạc sĩ ngành chính sách công, ĐH Princeton, Hoa Kỳ (2006); Thạc sĩ môi trường, trường ĐH KHTN (ĐHQG Hà Nội) (2000); Cử nhân khoa Thổ nhưỡng môi trường, ĐH Tổng hợp (1995). Tham gia nhiều khoá tập huấn về giới; khả năng lãnh đạo; quản lý dự án do Oxfam đào tạo. Anh cũng giành được nhiều học bổng danh giá như Fulbright (2005), học bổng của Ngân hàng thế giới (2005), học bổng Chevening (Anh). Từ 1995 – 7.2007 làm việc cho tổ chức Oxfam. Từ 7.2007 đến nay là Viện trưởng iSEE.

SƠN LÂM thực hiện