iSEE gửi thư đến đại biểu Quốc hội về Luật hôn nhân và gia đình

Ngay trước khi kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII khai mạc vào ngày 20/5/2014, Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (“iSEE”) đã gửi một thư ngỏ đến toàn bộ gần 500 đại biểu Quốc hội về quy định giải quyết hậu quả của việc chung sống giữa những người cùng giới tính (Điều 16, Dự thảo Luật hôn nhân và gia đình sửa đổi). Dự kiến ngày 19/6/2014, Quốc hội sẽ biểu quyết để thông qua Luật này.

Dưới đây là toàn bộ nội dung của thư ngỏ.

Kính gửi: Các đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII.

Chúng tôi là những nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội và cán bộ pháp lý tại Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE). Chúng tôi viết thư này để chia sẻ một vài thông tin cũng như quan điểm liên quan tới Điều 16 trong Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi (“Dự thảo”) quy định về việc giải quyết hậu quả của việc chung sống giữa những người cùng giới tính.

1. Quan hệ chung sống giữa những người cùng giới tính là quan hệ hôn nhân gia đình hay quan hệ dân sự?

Việc có phương án đưa Điều 16 ra khỏi Luật hôn nhân gia đình xuất phát từ việc xem bản chất quan hệ giữa những người cùng giới tính không phải là quan hệ hôn nhân. Hay sâu xa hơn, không xem họ là một gia đình. Nhưng thực tế lại nói lên điều ngược lại.

Nhiều cặp cùng giới sống chung với nhau, không được sự ủng hộ từ phụ huynh hay họ hàng, sống tách biệt và chỉ nương tựa vào nhau từ vật chất tới tinh thần. Thật khó để nói rằng họ chỉ là hai người có quan hệ dân sự với nhau. Ngược lại, thì nhiều cặp sống chung với nhau trong sự ủng hộ của cả gia đình hai bên, với đầy đủ sự hỗ trợ, kế hoạch cho tương lai, phụ huynh cũng coi người yêu con mình như con cái trong nhà.

Do đó, đưa quan hệ chung sống giữa những người cùng giới ra khỏi luật hôn nhân gia đình để giải quyết bằng luật dân sự, là một sự thừa nhận chưa đúng mức. Cái cuối cùng mà những người trong cuộc mong muốn vẫn là có một mối quan hệ “chính đáng” được luật pháp thừa nhận và bảo vệ. Nếu chỉ giải quyết hậu quả của việc chung sống với nhau như luật dân sự thì chỉ là thỏa thuận của hai bên như bất kỳ giữa hai người xa lạ nào khác.

Thêm nữa, việc giữ điều khoản “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” còn ngăn cản việc cấp chứng nhận độc thân để người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan thẩm quyền nước ngoài, và không thừa nhận hôn nhân cùng giới đã kết hôn hợp pháp ở nước ngoài.

2. Quan hệ hôn nhân khác gì quan hệ dân sự?

Mặc dù về bản chất hôn nhân cũng là quan hệ dân sự, nhưng lại có những tính chất đặc biệt, liên quan tới tình cảm và sự gắn bó giữa những thành viên trong gia đình.

Nếu chỉ giải quyết theo pháp luật dân sự thì không thể bảo đảm đầy đủ quyền lợi của các bên trong quá trình chung sống, đặc biệt về sự đóng góp công sức tạo dựng, duy trì cuộc sống chung. Theo đó với luật hôn nhân gia đình, người làm công việc nội trợ thì cũng ngang quyền với người trực tiếp làm ra tài sản. Đây là tính chất nhân bản chỉ có trong luật hôn nhân gia đình.

Trong khi đó với luật dân sự thì nguyên tắc nền tảng là bình đẳng: ai tạo ra bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu. Sự bình đẳng này nếu áp dụng vào mối quan hệ chung sống giữa hai người cùng giới coi nhau như vợ chồng thì lại bất công.

Việc “coi nhau như vợ chồng” thể hiện ở việc cặp đôi có thể hy sinh rất nhiều cho nhau để tạo dựng cuộc sống chung, trong đó có việc phân công lao động làm nội trợ, chăm sóc con cái hay đảm nhận thu nhập chính cho cuộc sống chung. Một người có thể mở rộng các mối quan hệ xã hội, hay thu hẹp lại trong phạm vi duy trì công việc gia đình. Sự bình đẳng trong mối quan hệ gia đình này lại không phải là “làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu” nữa mà cần phải là có quyền ngang nhau. Vì vậy, nếu đưa quan hệ cùng giới vào Bộ luật dân sự thì việc đảm bảo tính nhân bản và công bằng này là rất khó.

3. Quan hệ hôn nhân, chung sống cùng giới là trái với truyền thống, văn hóa Việt Nam?

Văn hóa cũng vận động và phát triển theo thời gian. Đã có nhiều vấn đề pháp luật đi trước phong tục tập quán, như hôn nhân một vợ một chồng, hay quyền bình đẳng của phụ nữ. Truyền thống do con người tạo ra và phát triển phục vụ con người, chứ không phải để trói buộc con người. Truyền thống của người Việt Nam trước nay vẫn đề cao việc yêu thương con người và đồng loại, nhân ái, vị tha, bảo vệ những nhóm người thiểu số.

Nhiều ý kiến cho rằng hôn nhân đồng giới không đảm bảo duy trì nòi giống. Thứ nhất, việc cho phép người đồng tính kết hôn hoặc chung sống với nhau không ảnh hưởng tới việc sinh con đẻ cái của những cặp khác giới. Và nếu không cho phép họ kết hôn, thì họ cũng không lấy người khác giới để sinh con (trừ trường hợp miễn cưỡng, giả tạo; mà miễn cưỡng, giả tạo lại là điều cấm của hôn nhân). Thứ hai, mục đích hôn nhân không chỉ duy nhất là sinh con đẻ cái, quan trọng hơn hôn nhân là để tạo ra môi trường hạnh phúc cho mọi người có thể phát huy hết khả năng của mình. Đó chính là mục đích nhân văn nhất của hôn nhân.

Viện Xã hội học, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, và Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường đã công bố “Kết quả trưng cầu ý kiến người dân về hôn nhân cùng giới” năm 2014, với 5.300 người dân được khảo sát trên 08 tỉnh thành phố khắp cả nước. (Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Đắc Lắk, TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Sóc Trăng). Điều tra cho thấy một số kết quả như sau. Thứ nhất, ngày càng có nhiều người dân biết về đồng tính (90%) và việc sống chung như vợ chồng giữa hai người cùng giới tính (62%). Thứ hai, 56% người dân cho rằng cặp đôi cùng giới nên có quyền cùng nhận con nuôi và nuôi con, 51% ủng hộ quyền sở hữu tài sản chung, 47% ủng hộ quyền thừa kế tài sản. Thứ ba, đa số người dân cho rằng việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới không ảnh hưởng đến gia đình (72,7%) hay cá nhân họ (63,2%).

Những kết quả trên cho thấy đã có một góc nhìn văn hóa mới về quan hệ hôn nhân, chung sống cùng giới ở Việt Nam, khác với những lo ngại trước đây. Thực tế, ngay trong tháng 5/2014, hai đám cưới đồng tính tại Bình Phước và Tiền Giang diễn ra suôn sẻ, không vấp phải sự phản đối của người dân, gia đình.

4. Không cần can thiệp hay quy định việc chung sống của những cặp cùng giới?

Thực tế là dù pháp luật không cho phép, họ vẫn sống chung với nhau, nhưng bị mất đi nhiều quyền lợi, như quyền thừa kế theo pháp luật, quyền tài sản chung, nhận con nuôi chung, quyền nhận thân nhân trong các trường hợp khẩn cấp, quyền hưởng các phúc lợi xã hội, lao động như các cặp khác giới.

Quan trọng không kém, sự thừa nhận pháp lý quan hệ hôn nhân hay chung sống còn có ý nghĩa tinh thần sâu sắc, thể hiện rằng xã hội tôn trọng phẩm giá của mọi con người như nhau và bảo vệ lợi ích hợp pháp cho tất cả công dân. Chúng ta hay nhắc đến nghịch lý về những người không yêu nhau mà phải lấy nhau, còn ở đây lại có một nghịch lý khác là những người yêu nhau lại không thể lấy nhau.

KIẾN NGHỊ

Trên những cơ sở nêu trên, chúng tôi xin có một số kiến nghị cụ thể trực tiếp về Dự thảo.

– Bỏ điều khoản “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.” (Điều 8, Khoản 2 về Điều kiện kết hôn)
– Bỏ phương án 1 của Điều 16. Tức là giữ lại Điều 16 trong Luật Hôn nhân và gia đình.
– Điều chỉnh tiêu đề của Điều 16 “Giải quyết hậu quả của việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính”; điều chỉnh phương án 2 của Điều 16: “Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của các bên trong quan hệ chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính được giải quyết theo thỏa thuận của các bên; nếu không có thỏa thuận thì theo quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Công việc nội trợ và các công việc khác có liên quan đến duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập.