Hội thảo tham vấn công chúng về Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình

Ngày 10 tháng 3 năm 2014, Viện nghiên cứu lập pháp của Ủy ban thường vụ quốc hội (ILS) và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã tổ chức Hội nghị tham vấn công chúng về dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi) tại TP. Hồ Chí Minh. Tham gia hội nghị có nhiều đại biểu quốc hội ở các tỉnh phía nam, đặc biệt có sự chủ trì của ông Đinh Xuân Thảo Viện trường ILS và bà Nguyễn Thúy Anh phó chủ nhiệm ủy ban các vấn đề xã hội. Ngoài ra còn có nhiều đại biểu đến từ các cơ quan tòa án, chính phủ, viện nghiên cứu và đặc biệt có sự tham gia của các nhóm đối tượng bị ảnh hưởng như người có H, người đồng tính, song tính và chuyển giới.

Đại diện cộng đồng người đồng tính và phụ huynh người đồng tính tham gia hội nghị

Tham gia hội nghị, ông Lê Quang Bình viện trưởng iSEE đã có bài tham luận về “giới tính trong kết hôn và các quy định giải quyết hệ quả của việc chung sống như vợ chồng của những người cùng giới tính”. Theo ông Lê Quang Bình, điều tra năm 2013 của Viện xã hội học, Viện chính sách và chiến lược y tế, và Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường cho thấy đa số người dân Việt Nam ủng hộ quyền nhận con nuôi và nuôi con chung của cặp đôi cùng giới (56%), và quyền sở hữu tài sản chung (51%). Bên cạnh đó, đa số người dân cho rằng việc thừa nhận hôn nhân cùng giới không ảnh hưởng đến gia đình (72,7%) và cá nhân (63,2%) họ.

Trong bối cảnh có 33,7% người dân ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới, Luật hôn nhân gia đình có thể đi trước hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới. Còn nếu Luật muốn phản ảnh thái độ của xã hội thì việc hợp pháp hóa quan hệ chung sống như vợ chồng là phù hợp nhất.
Trong bài trình bày của mình, ông Lê Quang Bình cũng nhấn mạnh đến nhu cầu của cộng đồng LGBT liên quan đến hôn nhân và gia đình. Theo một điều tra trực tiếp của Viện iSEE 61,9% người đồng tính đang trong một mối quan hệ yêu đương cùng giới. Động lực sống chung cùng giới của người đồng tính có 87,5% cho rằng để hỗ trợ nhau về tinh thần, tình cảm và tạo cảm giác an toàn. Trong những người có quan hệ cùng giới, 28,9% có sở hữu tài sản chung lớn như ô tô, sổ tiết kiệm, vàng; 18,4% góp vốn đầu tư chung; 15,8% có nhà đất (đứng tên một người); 7,9% có nhà đất đứng tên cả hai người. Ngoài ra, 61% trong độ tuổi kết hôn mong muốn có con, trong đó, 84% muốn có con để gắn kết cuộc sống gia đình đôi lứa, 81,1% vì thấy đủ tự tin để nuôi và dậy con tốt. Như vậy, việc hợp pháp hóa quan hệ cùng giới, trong đó có việc bảo vệ quyền có con và nuôi con chung, sở hữu và thừa kế tài sản của cặp đôi cùng giới là phù hợp với nhu cầu của họ.

Dựa trên quan điểm xã hội cũng như nhu cầu của người đồng tính, ông Lê Quang Bình cho rằng hợp pháp hóa hôn nhân bình đẳng, không phân biệt giới tính vẫn là cách giải quyết bình đẳng, tiến bộ và triệt để nhất.  Nếu xét đến quan điểm xã hội và nhu cầu thực tế của cộng đồng người đồng tính về việc xây dựng gia đình trong đó vấn đề con cái và tài sản đang trở nên nóng bỏng, thì dự thảo luật nên áp dụng hình thức “chung sống có đăng ký” hay còn gọi là “kết hợp dân sự”, như vậy sẽ mang tính khả thi và phù hợp nhất đối với Việt Nam trong thời điểm hiện nay.

Góp ý cụ thể cho dự thảo luật hiện tại, ông Lê Quang Bình cho rằng Quốc hội nên bỏ điều khoản “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính trong Điều 8, Khoản 2 về Điều kiện kết hôn. Giữ điều này sẽ hạn chế quyền của người đồng tính vì nếu Luật hiện tại “Cấm” có nghĩa là “không được làm”, thì dự thảo “không thừa nhận” giống như “không làm được.” Xét về lý thuyết, người đồng tính đã chuyển từ “không có quyền” sang “không thực hiện được quyền.” Quyền kết hôn của người đồng tính bây giờ trở thành một quyền “treo” để chờ “quy hoạch” trong tương lai. Liên quan đến điều 16 trong dự thảo luật, ông  Bình cho rằng điều này nên được giữ lại và mở rộng bao gồm quyền nuôi con của các cặp đôi cùng giới tính, cụ thể điều 16 có thể được viết: “Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của các bên trong quan hệ chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính được giải quyết theo thỏa thuận của các bên; nếu không có thỏa thuận thì theo quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Công việc nội trợ và các công việc khác có liên quan đến duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập.”