Đừng nhìn nghi lễ “rởm” mà phán xét

Chúng ta phải tôn trọng quyền của chủ thể văn hóa – quyền của con người Tây Nguyên với văn hóa của họ. Họ là người cuối cùng quyết định văn hóa đó tồn tại hay không tồn tại.

“Ăn trâu” thể hiện triết lý sống của người Tây Nguyên

Trước tiên phải gọi chính xác là lễ “ăn trâu”, như cách gọi của các dân tộc Tây Nguyên, chứ không phải đâm trâu như người Kinh thường gọi. “Ăn trâu” là một nghi lễ trong nhiều lễ hội của các dân tộc ở Tây Nguyên. Trong các lễ hội này, con trâu là vật hiến sinh cho thần linh, xưa kia phổ biến ở nhiều nơi thuộc Đông Nam Á, nơi con trâu được thuần dưỡng và là vật nuôi từ khá sớm, khác với các vùng khác nuôi bò.

Tục dùng trâu là vật hiến sinh thần linh, nay phổ biến hơn cả là Tây Nguyên của Việt Nam, một nơi duy nhất ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ, còn ở các vùng khác phong tục này đã mất đi nhiều. Bản thân hội chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng) cũng là di vết của tục hiến sinh trâu cho thần biển.

L. Phinô, một học giả nổi tiếng của Pháp, trong công trình nghiên cứu về người Khơme cổ đại, cho rằng việc dùng trâu làm lễ hiến sinh chính là sự thay thế cho hiến sinh người, là một bước tiến bộ của nền văn minh cổ ở Đông Nam Á. Hiện nay trong một số nghi lễ của các dân tộc bản địa Tây Nguyên vẫn có tục khi dựng nhà cho tù trưởng hay nhà cộng đồng họ có tục chôn hình nhân bằng đất xuống chân cột, đó là dấu vết của hiến sinh người.

Từ xưa tới nay ở nhiều dân tộc Tây Nguyên, nghi lễ này luôn diễn ra ở chân cột “ăn trâu” dựng trước nhà ở của gia đình hay nhà Rông của cộng đồng. Cái cột mang ý nghĩa biểu tượng là “cây vũ trụ”, nơi liên thông giữa Trời – Đất – Con người (Thiên – Địa – Nhân), nơi mỗi năm một lần con người có thể thông quan với trời – đất và thần linh, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, con người mạnh khỏe.

Nghi thức khóc trâu

Nghi lễ hiến sinh bên cột “ăn trâu” thể hiện khát vọng cũng như triết lý sống của các dân tộc Tây Nguyên, đó là:

Khát vọng con người hòa hợp, hòa đồng với tự nhiên. Với họ, con người và thiên nhiên là một, chứ không phân con người là chủ thể còn thiên nhiên là khách thể như tư duy của con người hiện đại. Mỗi năm một lần trong nghi lễ đó con người cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, con người mạnh khỏe.

Khát vọng con người hòa hợp với với thần linh, thông quan với thần linh để cầu mong sự che chở, phù trợ.

Lễ ăn trâu dù là của mỗi gia đình hay của cả cộng đồng nhưng đều trở thành sinh hoạt tâm linh của cả buôn. Đó là dịp con người không chỉ hòa đồng với thiên nhiên, với thần linh mà hòa hợp giữa con người với con người, cộng đồng này với cộng đồng khác, tạo nên sức mạnh cố kết, nguồn sức mạnh từ ngàn đời nay giúp họ vượt qua những thách đố của tự nhiên, xã hội, chiến tranh.

Đó cũng chính là triết lý sống của bà con các dân tộc Tây Nguyên!

Trình tự của một lễ “ăn trâu” có lớp lang cẩn thận. Để “ăn trâu” buổi sáng, thì chiều và đêm trước đã diễn ra nghi lễ “khóc trâu”, bày tỏ chân thành sự tiếc thương, sự biết ơn con trâu. Một bà mẹ hát, nói, vuốt ve con trâu, cho trâu ăn ngọn cỏ cuối cùng, những người trong gia đình, cộng đồng chui qua đuôi con trâu, chui qua vòng buộc cổ con trâu với ý nghĩa trâu đã thay cho con người hiến tế cho thần linh.

Lời bà mẹ khóc trâu nói mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện tình cảm rất sâu đậm giữa con người với vật hiến sinh. Ta hãy nghe một đoạn bài hát “Khóc trâu”: … “Thôi ta từ giã trâu từ đây, Trâu hãy ăn nắm cỏ lần cuối, Trâu hãy uống rượu cần lần cuối, Đừng trách ta nữa nghe trâu, Đừng giận ta nữa nghe trâu, Mai trâu về xứ Phan (xứ õm) giữ lúa, Cho buôn làng ta êm ấm nghe trâu, Cho buôn làng ta được mùa lúa trâu ơi!”.

Vào cuối buổi lễ, ở người Mnông (Đắc Nông), 6 cô gái sẽ quỳ xuống lạy trâu, làm “lễ tang” cho trâu trước khi trâu thành vật hiến sinh cho thần linh. Một số nhạc cụ chỉ tấu lên ở lễ tang và lễ đâm trâu. Đỉnh cao của nghi lễ diễn ra khi các “chiến binh” tay cầm lao hạ sát con trâu ngay dưới chân cột, một số bộ phận cơ thể và đầu trâu được cắt riêng dâng lên cho thần.

Những lập luận “phê bình” nghi lễ ăn trâu, là bởi chưa biết gì về văn hóa Tây Nguyên. Kể cả suy nghĩ cho con trâu là đầu cơ nghiệp cũng chỉ đúng với người Kinh mà thôi. Bởi vì người Tây nguyên có dùng trâu để cày đâu. Người ta cho nghi lễ này là “dã man”, nhưng trước hết phải quan niệm thế nào là dã man? Thông thường, cảm nhận dã man chủ yếu liên quan đến người khác tộc, người phương tây.

Bản thân tôi khi tham dự nghi lễ này không hề có cảm giác đó, kể cả những người nước ngoài có dịp tham dự nghi lễ thật sự của người Tây Nguyên, họ cũng không hề có suy nghĩ ấy. Chính giây phút người ngoài nhìn thấy là cả cộng đồng hò reo khi trâu bị đâm, thật ra là khi cảm xúc lên đến đỉnh điểm, khi con người thăng hoa đạt được sự hợp nhất.

Trước hay sau khi hạ sát trâu, các vòng múa theo chiều kim đồng hồ, cứ theo nhịp chiêng trống diễn ra thâu đêm suốt sáng. Cuối cùng là bữa ăn chung mang tính cộng đồng, mọi người vừa ăn, uống rượu cần, đánh chiêng, múa hát các bài dân ca, tạo nên không khí chan hòa, thắt chặt mối dây liên kết.

Tôi cũng đã có dịp dự nghi lễ “đâm trâu giả vờ”, nơi người ta thực hiện tất cả những nghi lễ nhưng không đâm trâu. Sau đó chỉ mang trâu đi giết thịt rồi ăn uống nhưng nó tẻ nhạt lắm, thiếu hẳn mối cộng cảm gắn bó. Tôi hỏi thì họ bảo đó là do cán bộ khuyên họ không nên giết trâu thật, chỉ làm giả vờ thôi, nhưng rõ ràng không tạo được sự thăng hoa, không phải là cảm xúc thật của người dân, nó không còn là tín ngưỡng nữa.

Nghi lễ đâm trâu mà chúng ta được xem qua tivi, thật ra không phải nghi lễ ăn trâu, mà chỉ là việc dựng lại lễ đâm trâu phục vụ du lịch, nói cách khác là thứ nghi lễ “rởm”, nên người xem sẽ không thể cảm nhận được xúc cảm rất thiêng liêng của cộng đồng đó.

Đừng đứng ngoài mà phán xét!

Từ cách ứng xử với lễ “ăn trâu” sẽ đặt ra một vấn đề lớn hơn nhiều, ta sẽ ứng xử thế nào văn hóa truyền thống?

Chúng ta phải tôn trọng quyền của chủ thể văn hóa – quyền của con người Tây Nguyên với văn hóa của họ. Họ là người cuối cùng quyết định văn hóa đó tồn tại hay không tồn tại. Lâu nay chúng ta chưa tôn trọng quyền chủ thể văn hóa, chúng ta vẫn nghĩ chúng ta ở bên ngoài có thể quyết định thay cho cộng đồng. Chưa kể, văn hóa là một hệ thống, tục “ăn trâu” là một yếu tố trong hệ thống văn hóa, khi chúng ta làm biến đổi một phong tục, thì phải chú ý tính hệ thống.

Tất nhiên văn hóa không bất biến mà có sự thay đổi, chúng ta cũng có thể tác động đến người dân để họ thay đổi văn hóa của họ, nhưng phải hết sức thận trọng, và phải tôn trọng quyết định của họ, đừng đứng ngoài phán xét.

Với văn hóa cổ truyền, chúng ta có 3 kiểu ứng xử: Cái gì có hại, đặc biệt nguy hiểm, cản trở đời sống, thì có thể thông qua vận động, khi cần cũng có thể áp đặt. Ví dụ quan niệm về ma lai rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến mạng sống của những người bị cho là ma lai, thì thông qua vận động bà con, thông qua pháp luật để chấm dứt.

Phong tục tích cực, phù hợp với xã hội hiện đại, ta nên hỗ trợ họ tìm mọi cách để duy trì, phát huy.

Có một loại chẳng có hại, chẳng có lợi, thì hãy để xã hội tự vận động. Khi nào xã hội thay đổi, thì chức năng đó sẽ tự mất đi, không nên can thiệp thô bạo.

Áp vào trường hợp cụ thể của lễ ăn trâu, chúng ta sẽ tìm được cách ứng xử phù hợp. Không thể coi lễ ăn trâu là đặc biệt có hại, nguy hiểm, cản trở đời sống được. Với người Tây Nguyên, nghi lễ ăn trâu thể hiện rất rõ khát vọng và triết lý sống của họ, vì sao chúng ta lại muốn can thiệp?

Văn hóa là của dân, để thỏa mãn nhu cầu của họ, xin đừng nhân danh ai đó, cái gì đó để nói cái này được làm, cái này không? Đúng là văn hóa có tính kế thừa có chọn lọc, nhưng vấn đề là ai chọn lọc? Đừng để văn hóa là chuyện chỉ một số ít người quản lý chọn lọc, và chọn lọc sai.

Chúng ta đã có thời kỳ nhìn văn hóa theo quan điểm tiến hóa luận đơn tuyến, chỉ thấy mặt tiến bộ hay lạc hậu, nên suy nghĩ cái lạc hậu phải bỏ đi, mà chưa thấy bản chất văn hóa là đa dạng. Ở Việt Nam thì người Kinh là chủ lưu, dễ mắc tư tưởng nhìn văn hóa của người khác qua lăng kính của mình.

Văn hóa là sự đa dạng. Hãy để chủ thể văn hóa lựa chọn cách ứng xử với văn hóa của bản thân họ sao cho tốt nhất dưới sự định hướng và hỗ trợ của Nhà nước.

Với văn hóa cổ truyền, chúng ta có 3 kiểu ứng xử: Cái gì có hại, đặc biệt nguy hiểm, cản trở đời sống, thì có thể thông qua vận động, khi cần cũng có thể áp đặt. Ví dụ quan niệm về ma lai rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến mạng sống của những người bị cho là ma lai, thì thông qua vận động bà con, thông qua pháp luật để chấm dứt.

Phong tục tích cực, phù hợp với xã hội hiện đại, ta nên hỗ trợ họ tìm mọi cách để duy trì, phát huy.

Có một loại chẳng có hại, chẳng có lợi, thì hãy để xã hội tự vận động. Khi nào xã hội thay đổi, thì chức năng đó sẽ tự mất đi, không nên can thiệp thô bạo.

GS. TS. Ngô Đức Thịnh

Theo Vietnamnet.vn