Đa dạng văn hóa và vai trò chủ thể của cộng đồn dân tộc thiểu số trong phát triển

Ngày 13 tháng 8 năm 2012, nhóm làm việc về người dân tộc thiểu số (EMWG) đã tổ chức hội thảo “đa dạng văn hóa trong các chương trình phát triển ở cộng đồng dân tộc thiểu số” với sự tham gia của đông đảo các đại diện từ Bộ văn hóa thể thao và du lịch, Ủy ban dân tộc, Bộ lao động thương binh và xã hội, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các nhà khoa học, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan báo chí.

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Bert Maerten chủ tịch EMWG chia sẻ “Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mới đòi hỏi phải có cách làm mới, có tính đột phá nhằm tháo gỡ những rào cản và những bất bình đẳng mà cộng đồng dân tộc thiểu số đang gặp phải. Những giải pháp phải tính đến sự đa dạng văn hóa cũng như tính chủ thể của người dân.

Bà Lê Thị Bích Hạnh, giám đốc chương trình của tổ chức Plan chia sẻ kinh nghiệm trong việc sử dụng kiến thức bản địa, văn hóa địa phương để làm cho chương trình giáo dục gần gũi với trẻ em dân tộc thiểu số. Theo bà Hạnh, việc phát triển giáo cụ đậm chất văn hóa và lịch sử của tộc người, đưa nội dung gần gũi với kiến thức bản địa, lịch sử và ngôn ngữ dân tộc đã làm cho học sinh hứng khởi đến trường hơn và dễ tiếp thu hơn. Chia sẻ với ý kiến của bà Hạnh, ông Mông Văn Hợi Chủ tịch ban dân tộc tỉnh Nghệ An cho rằng nhà nước cần đầu tư mạnh vào giáo dục mầm non và tiểu học bằng cách đào tạo giáo viên là người bản địa. Theo ông Hợi, bậc học mầm non và tiểu học rất quan trọng nên học sinh dân tộc nên được học bằng chính ngôn ngữ của mình từ đó tạo nền tảng cho các cấp học tiếp theo.

Hội thảo đã thảo luận sôi nổi về việc dựa vào văn hóa dân tộc để xây dựng các chương trình phát triển và tăng lòng tự hào và tự tin của người dân. Người dân chỉ bảo tồn những gì họ cho là phù hợp và thấy tự hào về nó. Chính vì vậy, các chương trình phát triển phải tập trung nâng cao niềm tự hào của người dân thay vì cho rằng văn hóa của họ là lạc hậu cần phải thay đổi. Điều đặc biệt quan trọng đó là người dân phải ở trung tâm của quá trình lựa chọn này, họ phải có không gian tự do để thảo luận và chia sẻ. Đây chính là cách mà dự án photovoice mà Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE), tổ chức CARE và Oxfam đã thực hiện. Trong hội thảo anh Giàng A Của người H’mông và chị Hồ Thị Bụi người Pa Cô đã chia sẻ, khi người dân có cơ hội học hỏi về văn hóa của mình, chia sẻ về văn hóa của mình tính cộng đồng tăng lên và lòng tự hào văn hóa cũng tăng lên. Hơn nữa, người dân đã tự tin nói về văn hóa của mình với các  bên và chủ động tham gia hơn vào các chương trình phát triển sinh kế và giữ gìn văn hóa cộng đồng. Như vậy, văn hóa là thuộc về cộng đồng và các chương trình bảo tồn văn hóa dân tộc nên lấy cộng đồng làm trung tâm, nếu không cộng đồng sẽ bị lề hóa và trở nên thụ động ngay trong những chương trình gìn giữ văn hóa của mình. Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến những thất bại và lãng phí.

Khi cộng đồng tự hào và thấy văn hóa của mình quan trọng họ sẽ chủ động tham gia gìn giữ như chia sẻ của ông Phạm Bá Thược người Thái đại diện của Mạng lưới “Bảo tồn phát triển tri thức bản địa dân tộc Thái Việt Nam” ở Thanh Hóa.  Từ thực tế là tiếng Thái ngày càng bị mai một và nhiều người dân tộc không còn khả năng nói và viết tiếng Thái, trong khi những nét văn hóa và kiến thức bản địa chỉ có thể truyền tải qua ngôn ngữ mẹ đẻ, Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền núi (CSDM) đã cùng cộng đồng người Thái bắt đầu ở Hòa Bình thành lập mạng lưới gìn giữ và bảo tồn tiếng nói và chữ viết của người Thái. Chính vì sự cần thiết và hiệu quả của công việc mà hiện tại mạng lưới đã mở rộng hoạt động ở 7 tỉnh có người Thái sinh sống, nhận được sự tham gia nhiệt tình của lãnh đạo cộng đồng và chính quyền địa phương. Như vậy, khi người dân thấy được tầm quan trọng của việc gìn giữ văn hóa của dân tộc mình họ có thể tự đưa ra sáng kiến và tình nguyện tham gia giữ gìn.

Chia sẻ với hội thảo, ông Nguyễn Hữu Thức – Vụ trưởng vụ Văn hóa Văn nghệ, Ban tuyên giáo cho rằng, việc gìn giữ văn hóa các dân tộc là rất quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, cần có một lực lượng tiên phong thúc đẩy việc này và đó là lực lượng trí thức là người dân tộc thiểu số. Họ phải là người gương mẫu duy trì văn hóa dân tộc mình ngay trong gia đình và từ đó làm gương cho cộng đồng. Đây cũng là ý kiến của nhà thơ Dương Thuấn khi ông cho rằng việc coi trọng đa dạng văn hóa và gìn giữ văn hóa như các tổ chức phi chính phủ đang làm là rất đáng trân trọng. Bản thân là  người trí thức dân tộc, nhà thơ Dương Thuấn cho rằng việc học tiếng dân tộc của mình phải bắt đầu từ bản thân cộng đồng và nên bắt đầu từ rất sớm.

Tổng kết hội thảo, ông Lê Quang Bình Viện trưởng viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) cho rằng việc sử dụng và văn hóa bản địa và sự chủ động tham gia tích cực của người dân vào việc thiết kế giáo cụ hay cải biên các nội dung chương trình giáo dục cho con em người dân tộc thiểu số đã bước đầu mang lại kết quả khả quan. Chính vì vậy, nhà nước và các cơ quan hữu quan cần xem xét đẩy mạnh việc lồng ghép kiến thức bản địa và văn hóa vào các chương trình giáo dục mầm non và phổ thông cơ sở bằng cách phân bổ ngân sách cho sự tham gia của cộng đồng cũng như giáo viên trong việc sản xuất giáo cụ, cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp với văn hóa địa phương. Bắt buộc giáo viên giảng dạy ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải dược đào tạo về đa dạng văn hóa và nhạy cảm văn hóa.

 

Kích thích niềm tự hào về văn hóa của mình ở người dân tộc thiểu số sẽ tạo động lực và nâng cao sự tự tin của cộng đồng trong việc gìn giữ và phát triển văn hóa cũng như thực hiện các dự án phát triển. Chính vì vậy các chương trình phát triển nói chung và bảo tồn văn hóa nói riêng phải lấy cộng đồng làm chủ thể. Mọi hỗ trợ về thiết chế văn hóa cần phải phù hợp với cộng đồng và để cộng đồng quyết định về tính phù hợp. Chính vì vậy, các chương trình nên giao trực tiếp cho cộng đồng thực hiện, tránh việc áp đặt văn hóa và đưa những văn hóa ngoại lai quá xa rời với văn hóa cộng đồng hiện tại. Để cụ thể hóa việc này, Ủy ban dân tộc và Hội đồng dân tộc nên đưa ra một hướng dẫn chi tiết cho việc thực hiện khoản 1 điều 7 trong nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, nhằm định nghĩa rõ ràng về hành vi kỳ thị và phân biệt đối xử với người dân tộc thiểu số, thúc đẩy đa dạng văn hóa cho cán bộ công chức làm việc với các cộng đồng dân tộc thiểu số.