Bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số vấn đề cấp bách đặt ra trong xu thế hội nhập và phát triển

Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) của các dân tộc là sự thể hiện trình độ phát triển văn hoá và tư duy của từng dân tộc. Ngôn ngữ đã tích tụ lưu giữ quá khứ lịch sử truyền thống, phản ảnh quan niệm về vũ trụ, cái nhìn về cuộc sống và tương lai mà từng dân tộc đã đúc kết và xây dựng nên… Khi một ngôn ngữ biến mất, thì những kiến thức này cũng sẽ mất theo và điều đó đồng nghĩa với việc một phần lịch sử và văn hóa của nhân loại bị xóa sổ và nền văn hoá chung của thế giới cũng bị “nghèo đi”.

Mặc dù có ý nghĩa và tầm quan trọng như thế, nhưng hiện nay nhân loại chúng ta đang phải đối mặt với sự mất dần một số ngôn ngữ dân tộc. Theo Viện Nhân chủng học và Lịch sử quốc gia Mexico, trên thế giới tồn tại khoảng 6.700 loại ngôn ngữ khác nhau, các con số thống kê và dự đoán dự báo đã chỉ ra rằng cứ 2 tuần thì thế giới này mất đi một ngôn ngữ và đến khoảng cuối thế kỷ XXI có đến 50% ngôn ngữ trên trái đất sẽ có thể biến mất. Vấn đề đặt ra là số ngôn ngữ có thể mất đi đó lại chủ yếu là ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Sự mất đi này diễn ra với mức độ ngày càng nhanh hơn trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay và nếu chúng ta không có các giải pháp tích cực để bảo tồn và phát triển nó.

Vấn đề đặt ra là để bảo tồn và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số thì cần phải xem xét, đánh giá nguyên nhân tại sao các ngôn ngữ này lại đang đứng trước nguy cơ mất đi. Nhiều cá nhân và tổ chức đã đưa ra một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

1. Các ngôn ngữ của dân tộc thiểu số đã, đang và sẽ tiếp tục chịu một sức ép rất lớn trước ngôn ngữ dân tộc đa số để tồn tại.

Ngôn ngữ của dân tộc đa số có sự tác động mạnh đến nỗi nó trở thành ngôn ngữ chính thức tại các vùng có nhiều dân tộc thiểu số, được sử dụng trên các phương tiện truyền thông (báo chí, Intemet, truyền hình…), tại các trường học (sách giáo khoa, tài liệu nghiên cứu) và trong các văn bản hành chính của chính quyền… Trong khi đó ngôn ngữ của dân tộc thiểu số dù được công nhận sự tồn tại, nhưng lại chỉ được phổ biến trong các phạm vi có giới hạn và không quá phổ biến như: làng mạc, gia đình và các buổi lễ cổ truyền… Vấn đề này đã làm cho ngôn ngữ đa số ngày càng “phình to” và “lan toả” vào mọi ngõ ngách của cuộc sống xã hội, tạo ra sức ép làm cho ngôn ngữ dân tộc thiểu số ngày càng “thu hẹp” và trở nên ít phổ biến hơn. Bên cạnh đó còn phải kể đến sự xâm nhập của ngôn ngữ dân tộc đa số vào ngôn ngữ dân tộc thiểu số làm cho ngôn ngữ của dân tộc thiểu số, bị pha tạp bởi rất nhiều từ ngữ của dân tộc đa số, kết quả của sự xâm nhập này đã làm cho ngôn ngữ các dân tộc thiểu số nghèo đi và tất yếu sẽ dẫn tới nguy cơ suy thoái.

2. Ngay một bộ phận những người dân tộc thiểu số cũng từ bỏ phong tục của mình và hòa nhập với những người không cùng ngôn ngữ. Bởi thế họ càng ít có cơ hội để sử dụng tiếng mẹ đẻ. Kết quả là ngôn ngữ của họ dần bị quên lãng và biến mất theo mức độ và thời gian hội nhập.

3. Khi ngôn ngữ không còn được coi là niềm tự hào thì việc duy trì và gìn giữ ngôn ngữ trong cộng đồng, thành phần dân tộc thiểu số gặp không ít khó khăn. Trong số 6.700 ngôn ngữ đang được sử dụng khắp thế giới, chỉ có khoảng gần 4.000 tiếng nói được truyền lại cho các thế hệ tiếp nối, số còn lại chỉ được truyền lại rất ít, hoặc không được truyền lại do nhiều nguyên nhân khác nhau. Người ta thường chỉ thấy việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong những người già ở cộng đồng, trong gia đình, trong khi đó với tuổi trẻ, ngôn ngữ dân tộc thiểu số lại rất ít được sử dụng, thậm chí còn được coi là “nhà quê”, không thích nghi với xã hội hiện đại. Chẳng có gì ngạc nhiên khi họ chủ yếu nói tiếng dân tộc đa số hoặc đua nhau học tiếng Anh, Pháp… để giao tiếp với thế giới bên ngoài.

4. Giải pháp bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số của nhiều quốc gia hoặc tỏ ra không hiệu quả hoặc chưa đủ sức mạnh để ngăn cản những tác động bất lợi do quá trình hội nhập và phát triển làm ảnh hưởng đến ngôn ngữ dân tộc thiểu số.

Hàng ngày qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động khác, chúng ta thường hay nói nhiều và bày tỏ sự lo lắng, chú tâm về ô nhiễm môi trường, sinh thái tự nhiên, về nguy cơ tuyệt chủng của các loài sinh vật, từ đó kêu gọi nhân loại bằng các hoạt động thiết thực của mình chung tay góp sức để bảo vệ sự đa dạng sinh học. Nhưng đối với việc bảo vệ sự đa dạng ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc, nói cách khác là bảo vệ môi trường, sinh thái văn hóa trước nguy cơ tiêu vong của một số lớn ngôn ngữ nhân loại thì có ít người đề cập và quan tâm đến. Trong khi đó ngôn ngữ có nguy cơ bị tiêu vong lớn hơn nhiều so với sự mất đi của các loài sinh vật.

Ngoài những nguyên nhân được coi là cơ bản nêu trên với mỗi một quốc gia, một vùng, một cộng đồng, một dân tộc thiểu số cụ thể còn có những nguyên nhân khác nữa. Việc nhận biết ra các nguyên nhân đó là rất quan trọng nhưng vấn đề quan trọng hơn đó là thái độ ứng xử và hành động của chúng ta để hạn chế các nguyên nhân đó như thế nào, việc xây dựng và thực thi chính sách về ngôn ngữ ra sao để có thể ngăn chặn được nguy cơ suy thoái và biến mất của ngôn ngữ dân tộc thiểu số từ đó bảo tồn vào phát triển vốn văn hoá của nhân loại. Đây là câu hỏi cấp bách đang đặt ra với các quốc gia và cả đối với Việt Nam chúng ta, đặc biệt là trong bối cảnh thế giới đang hưởng ứng cuộc vận động toàn cầu của UNESCO với nội dung “Năm ngôn ngữ 2008”.

ThS. Nguyễn Cao Thịnh