Xâm hại tình dục xuất hiện ngày càng nhiều: Nguyên nhân do đâu? Phần 3: Nỗi ám ảnh kéo dài

Tự đổ lỗi cho chính mình: nỗi ám ảnh kéo dài của xâm hại tình dục
Trong số 3787 câu chyện được gửi về trang facebook page S.O.S-Sharing our stories, nhóm nghiên cứu của iSEE đã sử dụng phương pháp bước nhảy để chọn ra 5% (178 câu chuyện) sử dụng cho phân tích. Một số con số đáng lưu ý từ phân tích:
• 69% nạn nhân chia sẻ họ bị bạo lực tình dục nhiều lần, bao gồm cả việc lặp lại nhiều lần bởi một thủ phạm và nhiều thủ phạm khác nhau.
• Hơn 61% nạn nhân cho biết thủ phạm là người quen bao gồm cả những người thân thiết trong gia đình như ông, bố đẻ, bố dượng, anh trai… TOÀN BỘ thủ phạm trong các vụ hiếp dâm và cưỡng dâm được chia sẻ người quen với nạn nhân;
• 89.9% nạn nhân bị quấy rối tình dục, hiếp dâm và cưỡng dâm khi đang là học sinh, sinh viên. Trong đó có lượng lớn các nạn nhân bị xâm hại ở độ tuổi mẫu giáo và cấp 1.
Phần lớn các nạn nhân bị quấy rối và tấn công tình dục đối mặt với cảm giác lo âu, bất lực và bị trầm cảm kéo dài. Những khó khăn trong việc cân bằng lại sau sự cố khiến nạn nhân có nguy cơ cao bị lặp lại các hành vi bạo hành. Con người ta dễ dàng tin tưởng rằng mình sẽ không bị tổn thương bởi họ tin thế giới là tốt đẹp và công bằng, điều tốt xảy đến với người tốt. Bởi vậy mà không chỉ những người xung quanh, mà ngay cả nạn nhân cũng không có đủ niềm tin vào bản thân mình, tự đổ lỗi cho bản thân mình. Họ cho rằng chính những hành vi của mình là nguyên nhân dẫn đến những hậu quả đau lòng. Tự đổ lỗi là một quá trình nhận thức mà một cá nhân quy kết rằng để việc xảy ra một ‘sự kiện đau lòng’ nguyên nhân là do chính bản thân họ.
Ø 31.5% nạn nhân trực tiếp đổ lỗi cho mình;
Ø 14.6% nạn nhân đổ lỗi cho các thuộc tính cá nhân như ‘quá tin tưởng’…;
Ø 3.9% nạn nhân đổ lỗi cho các hành vi của mình, như ‘không ngăn chặn từ đầu’;
Ø 13% nạn nhân tự trách cơ thể mình hoặc giới tính của mình.
68,5% nạn nhân không trực tiếp đổ lỗi cho bản thân mình nhưng hầu hết các nạn nhân đều đề cập đến những hình thức đổ lỗi gián tiếp hoặc ‘vô thức’ thông qua những từ ngữ mang tính ‘bao biện’ chứng minh mình không có lỗi như ‘mình không nghĩ mình là đứa ăn mặc đến nỗi hở cái này, khoe cái kia’, ‘mình không xinh đẹp’, hay ‘hôm đó mình tuyệt đối không ăn mặc hở hang gì hết’, ‘mình là con trai mà còn bị’. Cách sử dụng từ ngữ như vậy cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của tư tưởng ‘không có lửa thì làm sao có khói’, chỉ những người con gái, phụ nữ yếu đuối, xinh đẹp, ăn mặc ‘hở hang’ mới bị xâm hại tình dục. Lối tư tưởng đó đã làm cho các nạn nhân, đặc biệt là nữ giới ‘chủ quan’ với những nguy cơ tiềm ẩn bị bạo lực giới cũng như tăng ‘gánh nặng’ tâm lý lên vai các nạn nhân.
Hơn 35% nạn nhân không trực tiếp đổ lỗi cho mình nhưng họ cho biết họ không có phản ứng gì hoặc làm theo lời thủ phạm do không nhận thức được bản chất sự việc. Họ cho rằng, để xảy ra sự việc là ‘do còn quá nhỏ không hiểu chuyện gì’, ‘không được giáo dục giới tính từ nhỏ’, ‘giá như hồi đó là 20 tuổi’… Những nạn nhân này bị xâm hại ở độ tuổi mẫu giáo hoặc những năm đầu tiểu học chưa được giáo dục giới tính hay chưa được gia đình nhắc nhở về giới tính.
Thách thức và nhu cầu của nạn nhân
Quan niệm màng trinh
Nhiều gia đình giáo dục con cái rằng con gái sở hữu một tài sản vô cùng quý giá là ‘sự trinh tiết’ mà quyết định bởi ‘màng trinh’. Những người con gái giữ được ‘màng trinh’ được coi là những người trinh tiết – một bằng chứng của một người phụ nữ ‘trong sạch’, ‘ngoan’ và ‘đáng được trân trọng’. Quan niệm về ‘màng trinh’ đã in sâu trong văn hóa người Việt và cho rằng quan hệ tình dục là việc làm ‘nhạy cảm’, ‘dơ bẩn’, ‘cấm kỵ’. Khi người ta cố né tránh nói về hoặc thảo luận về vấn đề tình dục một cách cởi mở, công khai, nhiều vấn đề sẽ không thể được giải quyết. Đặc biệt, những vấn đề như quấy rối tình dục, hiếp dâm sẽ mãi núp trong ‘bóng tối’ khi người ta còn cảm thấy ‘ghê tởm’ mỗi lúc nghe đến chúng.
Quan niệm về ‘màng trinh’ còn khiến nạn nhân nghĩ rằng để xảy ra hành vi xâm hại là lỗi của họ. Nhiều nạn nhân chia sẻ là họ đã ‘bị mất’ trinh, ‘bị mất’ tức là họ làm mất thay vì bản chất là họ ‘bị cướp mất’. Khi xảy ra xâm hại thì nạn nhân lại trở thành tâm điểm của bàn tán, bị chỉ trích là ‘không biết giữ’, hoặc bị xem là ‘hạng con gái mất nết’. Thậm chí nạn nhân sẽ bị người ta đổ cho có hành vi dụ dỗ thủ phạm.
Quan niệm màng trinh đã coi người phụ nữ như một món hàng mà người mua là người đàn ông và ‘màng trinh’ như ‘tem nhãn’ đảm bảo cho món hàng. Khi sự trinh tiết được đề cao thì ngược lại việc mất trinh sẽ bị khinh rẻ. Người phụ nữ có thể mất hết tất cả hoặc sống trong ô nhục cả đời nếu trong đêm tân hôn họ không thể hiện được cái gọi là ‘trinh tiết’. Người đàn ông đã được trao cho cái quyền định đoạt ‘số phận’ của vợ mình khi phát hiện họ đã bị ‘bóc tem’ còn người phụ nữ bị mất đi cái quyền tự chủ với cơ thể của mình.
Bình thường hóa việc ‘làm gái cho người ta trêu’
Trong xã hội vẫn tồn tại quan niệm ‘làm hoa cho người ta hái, làm gái cho người ta trêu’ xem việc nữ giới và đặc biệt là các bạn trẻ bị ‘trêu ghẹo’, quấy rối như một chuyện bình thường. Việc ‘trêu ghẹo’ đó đã được ngầm chấp nhận một cách rộng rãi trong cộng đồng. Việc con trai trêu con gái, thậm khí nhiều khi khiếm nhã vẫn được chấp nhận và coi như ‘tự nhiên’. Do đó, khi chứng kiến nạn nhân bị quấy rối tình dục, họ thờ ơ hoặc coi đó là màn kịch vui.
Sự thờ ơ, im lặng của những người chứng kiến và thậm chí gia đình nạn nhân cũng là rào cản để các nạn nhân lên tiếng tố giác tội phạm BLG. Khoảng ½ các gia đình khi biết chuyện không có phản ứng gì và đối xử với nạn nhân vẫn như bình thường hoặc không tin nạn nhân. Bên cạnh việc phản ứng tiêu cực với nạn nhân, khoảng một nửa các gia đình khi biết chuyện không có phản ứng gì với thủ phạm, bệnh vực thủ phạm hoặc không biết thủ phạm là ai. Phản ứng này thể hiện trong chia sẻ của nạn nhân như ‘khi chú về, em kể lại với bố mẹ thì bố bảo ‘chú đó hiền lắm, chú nựng đấy’.
Việc bình thường hóa các hành vi quấy rối với phụ nữ và trẻ em gái trong xã hội khiến cả thủ phạm, người quan sát và thậm chí cả nạn nhân không ý thức được ảnh hưởng mà hành vi bạo lực có thể gây ra. Một thủ phạm chia sẻ trong câu chuyện của bạn ấy rằng ‘chính lúc ấy mình không nghĩ đc [được] đó là chuyện xấu xa đến thế’. Việc bình thường hóa hành vi ‘trêu ghẹo’cũng khiến nạn nhân bị cô lập, không dám lên tiếng và tạo cơ hội cho thủ phạm lặp lại các hành vi bạo lực với nạn nhân và những người khác.
Nam giới phải mạnh mẽ
Tương tự các vụ quấy rối tình dục và tấn công tình dục với nạn nhân nữ, nạn nhân nam cũng bị quấy rối tình dục trên xe buýt, tại trường học hay tại nơi ở của thủ phạm. Không chỉ các nạn nhân nữ phải đối mặt với những rào cản để lên tiếng tố giác tội phạm BLG, các nạn nhân nam cũng bị thách thức bởi những yếu tố đến từ định kiến xã hội. Một nạn nhân nam cho biết ‘cứ tưởng chỉ có nữ mới bị quấy rối, ai ngờ lúc này mình lại lâm vào tình cảnh này, thấy khó chịu nhưng ko dám nói’.
Nam giới thường được coi là ‘phái mạnh’, do đó khi bị tấn công tình dục, họ phải đối mặt với những chỉ trích là ‘hèn nhát’. Cụ thể như trong khi thủ phạm thì ‘sống nhan nhản và lấy vợ’ còn nạn nhân thì ‘cả gia đình tôi đều đổ hết tội lên đầu tôi và cấm tôi không được phép ra ngoài không phải vì muốn che chở cho tôi mà họ làm vậy vì sợ mang tiếng nhục nhã với hàng xóm láng giềng’. Quan niệm rằng nam giới là ‘phái mạnh’ phải mạnh mẽ, là trụ cột gia đình, những người bị bạo hành bị chỉ trích là ‘yếu ớt’ tạo ra hàng rào ngăn cản các nạn nhân nam lên tiếng tố cáo hành vi bạo lực mà họ đã phải trải qua.
Thêm vào đó, nhiều nạn nhân, cả nam và nữ không lên tiếng tố giác tội phạm vì sợ bị trả thù, vì muốn bảo vệ người thân khỏi những ‘sang chấn’, đánh đập và sợ phá vỡ ‘hạnh phúc gia đình’.
Câu chuyện của nạn nhân cho thấy một bức tranh khác về BLG ít khi xuất hiện trên báo chí. Hầu hết các vụ việc xảy ra chính trong những mối quan hệ thân thuộc nhất như người thân và bạn bè, ở thời điểm nạn nhân nhỏ tuổi, chưa có nhiều hiểu biết về vấn đề giới tính. Nếu như các vụ việc trên báo chí đã hoặc đang trong quá trình điều tra – xử án, thì đa phần nạn nhân trên S.O.S lần đầu tiên cất giọng nói ra câu chuyện của chính mình. Bức tranh BLG, qua lời kể của nạn nhân, nhuốm màu ám ảnh với những vết thương tâm lý chưa lành vì không được chia sẻ.
Kết lại bằng câu cầu mong của nạn nhận: những người chứng kiến hoặc được nghe kể về những vụ xâm hại tình dục hãy đừng xa lánh mà cho họ mượn 1 bờ vai.
Tác giả: Nguyễn Thị Hiếu
(Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường – iSEE)