Xâm hại tình dục xuất hiện ngày càng nhiều: Nguyên nhân do đâu? (Phần 2: Diễn ngôn báo chí)

Báo chí và đổ lỗi cho nạn nhân
Cách mà một người được gọi tên trong diễn ngôn báo chí có thể ảnh hưởng đáng kể đến cách mà người đó bị nhìn nhận và đánh giá. Một loạt những đặc điểm, cá tính, vai trò và tính cách có thể được sử dụng để mô tả về những con người bình đẳng.
Tuy nhiên, cùng một đặc điểm nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau lại mang những ý nghĩa khác nhau. Cách viết tập trung vào hành vi của nạn nhân, đặc biệt là nạn nhân nữ nhằm đổ lỗi cho chính sự việc xảy ra với họ và nhấn mạnh định kiến rằng họ phải chịu trách nhiệm cho hành vi bạo lực đó. Chiến lược viết bài đó cũng góp phần khiến độc giả thay vì xem xét hành vi của thủ phạm lại phân tích và nghi ngờ độ tin cậy của nạn nhân.
Bên cạnh đó, hai chiến lược dàn dựng bài nổi rõ trong phân tích gồm riêng tư hóa và quyền lực hóa. Riêng tư hóa là chiến lược then chốt trong các bài báo được sử dụng trong phân tích, chiến lược này đã tạo cơ hội cho đổ lỗi cho nạn nhân và xóa đi các bóc lột có tính cấu trúc.
Trong khi đó, quyền lực hóa đàn ông vừa phản ánh lại vừa củng cố hình ảnh người phụ nữ luôn là nạn nhân, kể cả họ có ‘bóp cổ chồng’ cũng do bị đánh đập kéo dài. Quyền lực hóa đàn ông cũng trao cho người ta cái quyền chỉ trích và đổ lỗi lên vai những người phụ nữ.
Báo giấy, tin tức trên TV hay báo điện tử là một trong những kênh chính truyền tải thông tin về các giá trị và niềm tin văn hóa của một xã hội (Korn & Efrat, 2004; Roshoco, 1975; Benedict, 1992). Khi viết một bài báo, phóng viên không chỉ sao chép y nguyên nguồn tin gốc. Thay vào đó, họ lựa chọn, tái sản xuất (reproduction), tóm tắt và biến đổi (transformation) văn bản nguồn theo cách hiểu của họ. Theo Van Dijk (2009), nhà báo chỉ biết một phần về bất cứ sự kiện nào.
Vị trí của nhà báo sẽ quyết định góc nhìn và quan điểm của người đó khi đưa tin. Ngoài ra, tin tức đưa ra còn chịu sự chi phối bởi quan điểm và cảm xúc cá nhân của tác giả. Bên cạnh đó, cấu trúc của một bài báo như cách sử dụng ngữ pháp, cú pháp hay cách sắp xếp các sự việc cũng thể hiện những ngụ ý và quan điểm ngầm ẩn (Van Dijk, 2009).
Trong 100 bài báo được sử dụng để phân tích trong nghiên cứu gần đây của Viện iSEE, 38% số lượng các bài báo nói về các vụ xâm hại tình dục trẻ em và 6% bài viết đề cập đến các vụ hiếp dâm. Hầu hết các bài viết về các chủ đề này không đề cập đến động cơ phạm tội của thủ phạm và số ít có đề cập đến một số nguyên nhân do thủ phạm mê phim xxx, say rượu, bị tâm thần…
Sự thiếu vắng nguyên nhân sâu xa trong các bài viết khiến cho người đọc quan niệm rằng xâm hại tình dục và hiếp dâm dường như không có lời giải thích hoặc do thủ phạm trong tình trạng không ý thức được. Niềm tin rằng không có một nguyên nhân nào lý giải cho hành vi bạo lực ngăn cản con người cố gắng suy nghĩ tại sao hành động đó lại được thực hiện (Turkewitz, 2010). Việc cho rằng không có lý do hoặc hợp lý hóa hành động của thủ phạm trong các vụ hiếp dâm hoặc xâm hại tình dục trẻ em mang một số ý nghĩa quan trọng.
Thứ nhất, nó loại bỏ các trách nhiệm của xã hội hoặc môi trường xung quanh – những yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi và nhân cách của thủ phạm. Gia đình là địa bàn then chốt trong việc trao truyền những quy chuẩn về giới (gender norms). Các học giả nghiên cứu việc học tập xã hội (social learning theorists) cho rằng việc học xảy ra thông qua quan sát, bắt chước (retention) và tái sản xuất khuôn mẫu của các niềm tin và hành vi (Akers, 1977; Bandura, 1974). Niềm tin rằng bạo lực tình dục là ‘bình thường’ và ‘chấp nhận được’ có thể được học từ việc quan sát và trải nghiệm bạo lực khi còn nhỏ. Trong thời thơ ấu, con trai học cách sử dụng bạo lực còn con gái lại học cách chịu đựng việc đó, nên cả hai giới đều “dung thứ” cho bạo lực thông qua quá trình học tập xã hội (social learning) (Tổng cục thống kê, 2010; Whitfield, Anda, Dube, và Felitti, 2003).
Thứ hai, các hành vi bạo lực đó bị xem xét và xử lý như những hiện tượng riêng biệt mang tính cá nhân. Việc này ám chỉ thủ phạm là người xấu và nằm ngoài xã hội.
Thứ ba, việc tin rằng không có lý do nào đó cho các hành vi bạo lực giới này còn loại bỏ các trách nhiệm của các tiêu chuẩn xã hội và các giá trị văn hóa. Trong văn hóa người Việt, dưới ảnh hưởng của Nho giáo, phụ nữ không có quyền chủ động và ra quyết định hay tham gia vào việc họ hàng, làng nước mà chỉ ‘tề gia nội trợ’. Người phụ nữ cũng được xem là yếu đuối, thiếu tính chủ thể mà cần sự bao bọc, bảo vệ của đàn ông.
Việc ‘kiêng cữ’ trước hôn nhân và sự trinh tiết của phụ nữ được xem là một giá trị, tài sản quý giá của người phụ nữ. Nữ giới bị ngăn cách không được gần gũi tự nhiên với nam giới, ‘nam nữ thụ thụ bất thân’. Họ không được tự do yêu đương mà ‘cha mẹ đặt đâu con nằm đấy’. Với những phụ nữ vi phạm ‘thất xuất’ sẽ bị đánh và đuổi về nhà chồng. Quan điểm về sự trinh tiết hình thành nên định kiến về hoạt động tình dục của phụ nữ.
Đặc biệt, nó còn tạo ra một xã hội câm lặng trước bạo lực tình dục khi nạn nhân chọn cách chôn giấu ký ức vì sợ sự phán xét từ những người xung quanh.Việc duy trì niềm tin rằng không có lời giải thích nào cho những vụ hiếp dâm hay xâm hại tình dục trẻ em làm cho công chúng được an ủi hơn khi không đổ lỗi cho văn hóa của chúng ta và do đó không có bất kỳ hành động nào thách thức niềm tin và ý thức hệ đang tồn tại trong xã hội.
Trong hầu hết các vụ bạo lực tình dục như hiếp dâm và xâm hại tình dục trẻ em, thủ phạm được ít nhất một lần gọi tên bằng những tên gọi dành cho thủ phạm/nghi phạm như thủ phạm, hung thủ, bị cáo, kẻ thủ ác, yêu râu xanh nhiều hơn các loại hình bạo lực giới (BLG) khác. Tuy nhiên, cách gọi phổ biến nhất trong các bài viết vẫn là những từ chỉ tên riêng (như ông T, Dương, v.v) và những từ chỉ cho các giới nói chung (người đàn ông, ông lão hàng xóm, ông lão 77 tuổi, v.v).
Clark (1992 trích trong Alat, 2006) đã chỉ ra rằng truyền thông gọi tên thủ phạm bằng những từ ngữ ‘nửa con người’ (sub – human) hoặc sử dụng những thuật ngữ sử dụng trong mối quan hệ xã hội thông thường. Khi truyền thông không đồng tình với hành vi bạo lực của thủ phạm, những từ như kẻ thủ ác, kẻ ác, quái vật, v.v, sẽ được sử dụng để gọi tên thủ phạm. Nhưng nếu truyền thông muốn tạo ra sự cảm thông, xót thương thủ phạm, những cách gọi tên đó sẽ bị tránh, thay vào đó là gọi bằng họ tên đầy đủ và gắn những lí do bào chữa cho hành vi bạo lực cạnh tên của thủ phạm như ‘cậu họ tâm thần’ (Alat, 2006).
Tiêu đề và nội dung các bài báo thường gọi tên các vụ bạo lực giới thông qua cách gọi tên mối quan hệ riêng tư của thủ phạm – nạn nhân như ‘chàng trai – người trong mộng’, ‘cha dượng – con’, ‘ông lão hàng xóm – cháu bé’ v.v, và… Việc sử dụng cách gọi tên thủ phạm – nạn nhân, hành vi bạo lực giới thấy bạo lực giới vẫn được xem là một vấn đề ‘riêng tư’, không nên thảo luận mở.
Đặc biệt hơn nữa, vấn đề bạo lực giới được mô tả trong nhiều bài báo như đã xảy ra trong một khoảng thời gian, như ‘xâm hại cháu gái nhỏ nhiều lần’… nhưng hầu như không bài viết nào đề cập đến sự can thiệp của các cơ quan chức năng và các tổ chức bảo vệ phụ nữ, trẻ em cho đến khi xảy ra hậu quả nặng nề. Điều này có thể cho thấy quan niệm tuyệt đối hóa quyền uy của người đàn ông và sự phục tùng vô điều kiện của người phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn đến việc ngăn chặn, báo cáo và xử lý các hành vi bạo lực giới tại Việt Nam.
(Còn nữa)
Tác giả: Nguyễn Thị Hiếu
(Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường – iSEE)