Xâm hại tình dục xuất hiện ngày càng nhiều: Nguyên nhân do đâu? (Phần 1: Rễ sâu văn hoá)

Những ngày gần đây, vấn đề tấn công tình dục được công luận đặc biệt quan tâm, sau khi hàng loạt vụ việc xảy ra liên tiếp. Để có thêm cái nhìn sâu hơn về vấn đề này, iSEE giới thiệu loạt bài viết của thạc sĩ Nguyễn Thị Hiếu, trong khuôn khổ dự án nghiên cứu BRAVE – đổ lỗi cho nạn nhân.
Đổ lỗi cho nạn nhân và vì sao người ta lại đổ lỗi cho nạn nhân?
Mấy năm gầy đây các vụ án và bài viết về các vụ xâm hại tình dục (hiếp dâm, quấy rối tình dục nơi công cộng và đặc biệt là xâm hại tình dục trẻ em) xuất hiện ngày càng nhiều. Báo chí đã có vẻ tỏ ra ‘năng suất’ hơn khi đưa các vụ việc này ra thảo luận công khai. Nhiều cơ quan, tổ chức cũng đã ‘bắt tay’ vào cuộc với hi vọng ngăn chặn được các vụ việc. Tuy nhiên, các hoạt động mới chỉ dừng lại ở các chương trình tư vấn pháp luật, can thiệp giảm nhẹ tác động cho nạn nhân và một số chiến lược đối phó –coping strategies (như nhà tạm lánh v.v). Các nguyên nhân sâu xa lại chưa được ‘động chạm’ và xử lý triệt để.
Đổ lỗi cho nạn nhân như một ‘ung nhọt’ bắt rễ sâu trong văn hóa của người Việt, dẫn đến việc các nạn nhân và gia đình nạn nhân thường không lên tiếng tố giác thủ phạm. Đổ lỗi cho nạn nhân (victim blaming) là hiện tượng khi nạn nhân của một vụ án hoặc những hành động phạm tội, sai trái nào đó bị đổ lỗi và phải chịu hoàn toàn hoặc một phần trách nhiệm cho những gì xảy ra với họ. Đổ lỗi cho nạn nhận thường xảy ra nhiều đối với nạn nhân của các vụ bạo lực tình dục hơn các loại hình tội phạm khác như trộm, cướp, v.v. Khi người phụ nữ trở thành nạn nhân của xâm hại tình dục, rất nhiều lời biện bạch thường được đưa ra mang tính chất đổ lỗi cho nạn nhân như tại sao phụ nữ lại đi ra đường vào buổi tối muộn, ăn mặc ‘hở hang’, tại sao đứa bé ấy lại đi một mình, v.v. (Bowen, 2017; Cherry, 2018; Van der Bruggen và Grubb, 2014).
Có một số giả thuyết nhằm giải thích cho lý do vì sao người ta lại đổ lỗi cho nạn nhân. Theo giả thuyết về một thế giới công bằng (A Just World), con người tin rằng thế giới là một nơi công bằng, nơi mà mỗi hành động của con người đều có thể đoán trước hậu quả đi kèm; những điều tốt đẹp sẽ xảy ra với người tốt, còn kẻ xấu sẽ bị trừng trị, một người sẽ nhận được những gì mà họ đáng được nhận (Lambert và Raichle, 2000; Lerner, 1980; Lerner và Matthews, 1967; Lerner và Simmons, 1966). Các hành động mang tính phản xã hội, như bạo hành, hiếp dâm, v.v. đã làm hỏng đi hình ảnh một thế giới lý tưởng; tạo cho con người cảm giác bị mất quyền kiểm soát đối với cuộc sống cũng như sự an toàn của mình. Để bảo vệ ‘cảm giác an toàn’ và niềm tin của mình, nhiều người sử dụng nhiều cách khác nhau, trong đó bao gồm việc quy kết rằng nạn nhân đáng bị như vậy. Sự giải thích duy lý đó cho phép người ta tiếp tục tin rằng những điều không may sẽ không xảy ra với họ, miễn là họ cẩn thận và có nhân cách ‘tốt’ (Lerner, 1980; Lerner và Miller, 1978; Valor-Segura, Exposito và Moya, 2011; Van der Bruggen và Grubb, 2014).
Một lý thuyết khác, chủ nghĩa phân biệt giới tính lại nhìn nhận phụ nữ theo cách truyền thống và khuôn mẫu. Để được xem là ‘tốt đẹp’, người phụ nữ bị giới hạn trong những vai trò và hành vi nhất định; và khi đó, họ sẽ được bảo vệ và che chở bởi đàn ông. Quan điểm này hợp thức hóa những phản ứng tiêu cực đối với những người phụ nữ không thực hiện đầy đủ các mong đợi về vai trò của người phụ nữ truyền thống và không tuân theo khuôn mẫu khi thoát khỏi sự ‘bảo vệ’ của nam giới.
Bị xâm hại tình dục không phải là lỗi của nạn nhân, không ai đáng bị lợi dụng về tình dục hay thể xác. Thủ phạm chính là người phải chịu trách nhiệm về hành vi này. Nhưng việc đổ lỗi cho nạn nhân đã đổ trách nhiệm lên vai nạn nhân, làm cho người ta ít khiển trách thủ phạm hơn và thủ phạm ko nhận ra những điều sai trái mình ra gây ra. Đổ lỗi cho nạn nhân không những không giúp ngăn chặn được bạo lực giới mà còn tạo điều kiện để nó diễn ra phổ biến hơn.
(Còn nữa)
Tác giả: Nguyễn Thị Hiếu
(Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường – iSEE)