Cuộc gặp của những diễn ngôn: sự thấu hiểu cho cuộc sống “đa thanh”

Không chỉ là chương trình hằng năm nhằm tôn vinh văn hóa của các cộng đồng DTTS, “Tôi tin tôi có thể” còn là một thông điệp, một chân trời nơi những diễn ngôn thiểu số được cất tiếng – khi chúng ta tin, chúng ta có thể.

Buổi khai mạc chương trình Tôi tin tôi có thể 2019, chủ đề “Cuộc gặp của những diễn ngôn” đã diễn ra vào ngày 24/05 tại trung tâm văn hóa Pháp L’espace, với hơn 150 đại diện đến từ 16 nhóm dân tộc trên khắp mọi miền đất nước và đông đảo những người yêu mến văn hóa các cộng đồng DTTS. Sự kiện do nhóm Mạng lưới Tiên Phong – Vì tiếng nói người dân tộc thiểu số tổ chức, được tài trợ bởi Đại sứ quán Ireland và tổ chức Plan International với sự đồng hành của các tổ chức iSEE, CECEM, Care Quốc tế tại Việt Nam, ChildFund Vietnam và Mắt Trần.

Xoay quanh chủ đề diễn ngôn, khán giả đã được lắng nghe nhiều câu chuyện thú vị từ chính người trong cuộc cũng như những phân tích sâu sắc của các nhà nghiên cứu.

LNB_2299
Diễn ngôn và những sự thật bị đẩy ra lề

Mở đầu chương trình, “Trải nghiệm trong bóng tối” do nhóm Mắt Trần thực hiện đã đưa khán giả vào không gian huyền ảo của rừng, với âm thanh của tiếng chim hót, tiếng suối chảy hòa vào giọng kể chuyện vang vọng từ một miền ký ức xa xưa. Chị H’Nưn Mlo, dân tộc Ê Đê, chia sẻ: “Ngày xưa, ông bà cũng kể chuyện bên đống lửa, hôm nay tưởng tượng lại cảnh đó cũng hơi cảm động”. Trong tâm thức của người Ê Đê, rừng được coi là linh thiêng và đem lại hạnh phúc cho bản làng. Hạt gạo cũng từ đó mà ra, rừng còn có những cây to giữ nguồn nước, có rắn, có ma, Thần nước, Thần rừng. “Rừng là nguồn sống của dân tộc”, anh Ytri Mlo nói, rồi anh lại trầm buồn: “bây giờ hoang vu, mai một đi, rất là hối tiếc”. Bởi ý nghĩa quan trọng của rừng trong đời sống cộng đồng nên “người Tây Nguyên không bao giờ phá rừng. Hồi xưa chỉ chặt làm rẫy, chặt chỗ này đến khi nó bạc màu thì chặt chỗ khác, cứ xoay vòng quanh năm như thế. Nhưng nói đến phá rừng thì người Tây Nguyên không bao giờ phá rừng”, chị H’Nưn Mlo khẳng định.

PGS. TS. Phạm Quỳnh Phương, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, đưa ra lý giải rằng nhận thức của người Kinh về rừng rất khác với nhận thức của người Ê Đê khi mà rừng là không gian môi sinh của cộng đồng. Theo chị Phương, cái nhìn nhị nguyên luận phân tách con người với thiên nhiên, vì vậy vũ trụ quan của người Kinh là chinh phục thiên nhiên, trong khi đó người Ê Đê và nhiều DTTS khác có vũ trụ quan của sự hòa hợp – con người dựa vào thiên nhiên và thiên nhiên phụ trợ cho con người. TS. Nguyễn Thu Giang, Khoa Báo chí và Truyền thông, ĐHKHXH&NV, chia sẻ cùng quan điểm: “Một người nhìn rừng chỉ là bao nhiêu mét khối gỗ làm sao hiểu được một cây gỗ lim có thần linh trong đấy, rằng họ chạm vào không gian văn hóa được bồi đắp hàng nghìn năm”.

Câu chuyện của những cách hiểu khác biệt về rừng mở ra một câu chuyện lớn hơn về sự gặp gỡ, va đập và đối thoại của những diễn ngôn khác nhau về người DTTS. “Diễn ngôn là không gian các sự thật mà con người bơi trong đấy, ai cũng thấy nó là tự nhiên”, chị Thu Giang nhận định. Diễn ngôn là vấn đề của quyền lực nên sự thật thì không tồn tại bình đẳng. Theo chị, một số sự thật được đẩy vào lõi, chúng mặc nhiên được coi là đúng, ngược lại, một số nghĩa bị đẩy ra ngoài lề và luôn phải đi giải trình. Diễn ngôn thống soát có tính áp đặt và đôi khi có tính bạo lực rất lớn.

“Tại sao tôi cảm thấy rừng là linh thiêng mà tôi cứ phải đi giải trình?”, chị Giang nhấn mạnh.

LNB_2273

Khiêm tốn để thấu hiểu

Trong vô vàn trò chơi ngôn ngữ và biển cả của nghĩa, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để hiểu một nền văn hóa khác.

Người Pa Kô quan niệm “người khỏe mạnh nên nhìn lại người ốm yếu, người đi trước ngoảnh lại người phía sau” như ông Kray Sức, dân tộc Pa Kô tại Quảng Trị chia sẻ. Trong khi đó, họ phải chịu diễn ngôn của truyền thông đại chúng rằng người DTTS là “trông chờ, ỷ lại” – một ý niệm vốn dĩ không tồn tại trong ngôn ngữ của dân tộc Pa Kô. Ông Kray Sức đưa ra dẫn chứng: “Nhiều người nói đồng bào DTTS đói nghèo mãi mãi là vì trông chờ ỷ lại sự hỗ trợ của Nhà nước. Anh Hồ Văn Việt không nhận tài trợ gì hết mà làm gần 300 chiếc đàn ta lư”.

Sự va đập của hai hệ thống từ vựng, theo chị Thu Giang, sẽ dẫn đến quá trình thông diễn. Tuy nhiên, luôn tồn tại những điều không thể dịch được hay còn gọi là bất khả ước. Thông diễn, vì thế, không đơn giản như việc đổ từ cốc nước này sang một cốc nước khác mà luôn có giới hạn của nó và “giới hạn của sự hiểu đòi hỏi mình phải khiêm tốn”. Nói cách khác, khi đứng trước một nền văn hóa thì cốt lõi là sự thấu hiểu. “Để hiểu một nền văn hóa khác hoàn toàn thì đòi hỏi phải hiểu nền văn hóa của họ trong chính bối cảnh văn hóa của họ”, chị Quỳnh Phương cho biết.

Khi sự thấu hiểu trở thành tiền đề thì những chính sách về DTTS theo tư duy nhị nguyên luận, dựa trên mối tương quan ta và họ, cần được nhìn nhận kỹ lưỡng hơn. “Ta lấy ta làm trung tâm, ta cho ta làm chuẩn mực. Hiện nay chúng ta vẫn coi phương Tây là cái đích để phấn đấu và coi các DTTS cần tiến kịp mình, vì thế mới có “miền núi tiến kịp miền xuôi”, chị Quỳnh Phương cho biết. Một ví dụ khác là nơi các cộng đồng DTTS sinh sống thường bị gọi là “vùng sâu, vùng xa”. Sở dĩ có cách mô tả không gian như vậy, theo chị Thu Giang, là do người Kinh coi mình ở trung tâm. “Tôi đang ở trong nhà tôi, trên vùng đất tổ tiên tôi sinh sống tại sao lại gọi tôi là vùng sâu vùng xa?”, chị Giang nói, “cây hỏi phải đặt ra là từ lúc nào lại như thế, từ lúc nào tôi đã bị ngoại biên hóa?”.

Sự thấu hiểu cũng đòi hỏi chúng ta phải chậm lại và luôn phản tư trong từng khoảnh khắc di chuyển giữa những vùng khác nhau của nghĩa. Tri thức Nhân học cần được tôn vinh, những người làm truyền thông nên ý thức được vai trò điều chuyển, phát tán diễn ngôn và ngay cả các tổ chức hoạt động vì người DTTS cũng cần chất vấn chính hoạt động can thiệp của mình.

Quyền lực ở khắp mọi nơi nên diễn ngôn có thể đến từ khắp mọi nơi. Thấu hiểu có thể bắt đầu từ sự lắng nghe và “Cuộc gặp gỡ của những diễn ngôn” là một nơi như vậy, nơi các cộng đồng DTTS tự cất lên tiếng nói của mình.

“Tôi tin tôi có thể”

Không chỉ là chương trình hằng năm nhằm tôn vinh văn hóa của các cộng đồng DTTS, “Tôi tin tôi có thể” còn là một thông điệp, một chân trời nơi những diễn ngôn thiểu số được cất tiếng – khi chúng ta tin, chúng ta có thể.

Chị H’Nưn Mlo nói: “Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng. Chúng tôi cùng tìm hiểu để lan tỏa tiếng nói cho cộng đồng tại địa phương mình”. Anh Tòng Văn Hân, dân tộc Thái, cũng cho biết: “Chúng tôi có lòng tin từ ở nhà nên chúng tôi mới mang các tiết mục biểu diễn đến”, bởi vì “mình tự hào thì mình tự tin trình diễn, vì nó là sự thật mà” như lời của chú Kray Sức.

“Tôi tin vào sự chậm chạp, sự đấu tranh và cửa vào diễn ngôn ở khắp mọi nơi. Những chân trời mình cũng bay theo những cách khác nhau thì mình tạo ra hiệu ứng vượt ngoài sức của một con người”, chị Thu Giang chia sẻ.

“Qua các chương trình Tôi tin tôi có thể, tôi cảm thấy các anh chị (nhóm Tiên Phong) tự tin hơn rất nhiều. Tôi tin là các anh chị có thể và tôi tin là chúng ta có thể. Chúng ta có thể biến sự thay đổi diễn ra nhanh hơn trước đây chúng ta nghĩ là chúng ta có thể”, chị Quỳnh Phương nói.

Như một thông điệp khép lại chương trình, nhà báo Tạ Bích Loan nói về niềm tin của chị: “Tôi tin rằng tất cả chúng ta có thể thay đổi bắt đầu từ việc chậm lại, suy nghĩ, cân nhắc để tạo ra một thế giới hạnh phúc hơn bởi vì nó hài hòa hơn, đa dạng hơn, chào đón tất cả những sự khác biệt để chúng ta có một thế giới muôn màu hài hòa và mọi người đều có cơ hội để nói lên tiếng nói của chính mình”.

Chu Lan Anh (ghi)